Mật ong sinh thái

Quá trình hình thành mật ong
Mật ong bắt đầu từ mật hoa và mật nách lá. Mật hoa là dịch ngọt tiết ra từ tuyến mật của hoa. Hoa tiết ra để quyến rũ côn trùng đến thụ phấn. Tuyến mật hoa thường thấy trên các đài hoa, cánh hoa, nhị hoa đực và nhuỵ hoa cái.
Ong thợ sử dụng vòi để hút mật hoa từ các loại hoa. Mật hoa được đưa vào dạ dày ong để các enzyme thực hiện chuyển hóa từ mật hoa sang mật ong (loài ong có hai loại dạ dày: dạ dày mật sử dụng khi làm mật và dạ dày thường để chuyển hóa thức ăn). Sau khi về đến tổ, ong thợ sẽ chuyển lượng mật hoa đang ở trong dạ dày mật sang cho ong thợ khác để tiếp tục thực hiện quá trình chuyển hóa thành mật ong. Mỗi ong thợ thực hiện việc chuyển hóa này trong khoảng 30 phút.
Ong thợ sử dụng vòi để hút mật hoa từ các loại hoa. Mật hoa được đưa vào dạ dày ong để các enzyme thực hiện chuyển hóa từ mật hoa sang mật ong (loài ong có hai loại dạ dày: dạ dày mật sử dụng khi làm mật và dạ dày thường để chuyển hóa thức ăn). Sau khi về đến tổ, ong thợ sẽ chuyển lượng mật hoa đang ở trong dạ dày mật sang cho ong thợ khác để tiếp tục thực hiện quá trình chuyển hóa thành mật ong. Mỗi ong thợ thực hiện việc chuyển hóa này trong khoảng 30 phút.
Sau khi mật hoa được chuyển hóa hoàn toàn thành mật ong, ong thợ sẽ nhả mật ong vào tổ rồi dùng cánh để quạt bay hơi nước có trong mật cho đến khi mật ong đạt đến độ bão hòa (tỷ lệ nước ~17%) thì sẽ thực hiện niêm phong tổ lại, hoàn tất quá trình làm mật.

Phần lớn các vi sinh vật không sống trong mật ong vì mật ong có hoạt tính nước thấp, khoảng 0,6. Mật ong là hỗn hợp của các loại đường và một số thành phần khác. Về thành phần carbohydrat, mật ong chủ yếu là fructose (khoảng 38,5%) và glucose (khoảng 31,0%). Các carbohydrat khác trong mật ong gồm maltose, sucrose và carbohydrat hỗn hợp. Trong mật ong, các vitamin và chất khoáng chỉ xuất hiện ở dạng vết. Mật ong cũng chứa một lượng rất nhỏ các hợp chất chức năng như chất chống oxy hóa, bao gồm chrysin, pinobanksin, vitamin C, catalase và pinocembrin. Thành phần cụ thể của mật phụ thuộc vào hoa mà ong hút mật.
Thành phần của mật ong thông dụng:
Fructose: 38,2%
Glucose: 31,3%
Sucrose: 1,3%
Maltose: 7,1%
Nước: 17,2%
Các loại đường có khối lượng phân tử cao hơn: 1,5%
Tro: 0,2%
Các chất khác: 3,2%
Chỉ số glycemic của mật ong là từ 31 đến 78.
Khối lượng riêng của mật ong là 1,36 kg/lít (nặng hơn nước 36%).
Thành phần của mật ong thông dụng:
Fructose: 38,2%
Glucose: 31,3%
Sucrose: 1,3%
Maltose: 7,1%
Nước: 17,2%
Các loại đường có khối lượng phân tử cao hơn: 1,5%
Tro: 0,2%
Các chất khác: 3,2%
Chỉ số glycemic của mật ong là từ 31 đến 78.
Khối lượng riêng của mật ong là 1,36 kg/lít (nặng hơn nước 36%).

Ong mật là loài ong làm mật nhiều hơn lượng mật mà nó cần dùng đến trong mùa đông, nên người nuôi ong có thể thu hoạch một phần mà không gây hại cho đàn ong. Khi nguồn thực phẩm cho ong bị thiếu, người nuôi ong có thể bổ sung dinh dưỡng cho ong bằng cách cho ong ăn lại phấn hoa hoặc đường.
Ong thu thập mật từ nhiều loài hoa, do đó mật của chúng sẽ có hàng trăm loại, có màu sắc, mùi và vị khác nhau. Một số loại mật ong còn có thể dùng làm thuốc.
Những giống ong to có vòi dài thì khả năng thu mật sẽ dễ dàng và nhiều hơn. Tuy nhiên, đây lại không phải là giống ong bản địa của Việt Nam. Giống ong bản địa là giống có khả năng sống tốt ở môi trường bản địa, ít bị bệnh, khoẻ mạnh, chịu khó đi kiếm ăn xa. Vì vậy, mật ong được luyện từ chính những chú ong bản địa sẽ cho ra được chất lượng mật tốt và gần như không phải sử dụng đến thuốc kháng sinh để điều trị. Cách người ta chăm sóc ong cũng làm cho đàn ong khoẻ mạnh, sinh trưởng tốt. Ong khoẻ thì làm men sẽ tốt hơn, cho năng lượng sinh học cao trong mật ong.
Bên cạnh đó, rừng ở phía bắc Việt Nam thì khí hậu bốn mùa, đa dạng sinh thái nên chất lượng mật rất cao. Như các vùng rừng đa cây dược quý như Ba Vì, Tam Đảo, Yên Tử là vùng cho mật rất tốt. Nhưng phải biết một cách chính xác là đàn ong ở vùng đó được đặt ở đâu, trong rừng tự nhiên hay trong rừng đặc dụng hay gần đồng ruộng canh tác nhiều hoá chất.
Ong thu thập mật từ nhiều loài hoa, do đó mật của chúng sẽ có hàng trăm loại, có màu sắc, mùi và vị khác nhau. Một số loại mật ong còn có thể dùng làm thuốc.
Những giống ong to có vòi dài thì khả năng thu mật sẽ dễ dàng và nhiều hơn. Tuy nhiên, đây lại không phải là giống ong bản địa của Việt Nam. Giống ong bản địa là giống có khả năng sống tốt ở môi trường bản địa, ít bị bệnh, khoẻ mạnh, chịu khó đi kiếm ăn xa. Vì vậy, mật ong được luyện từ chính những chú ong bản địa sẽ cho ra được chất lượng mật tốt và gần như không phải sử dụng đến thuốc kháng sinh để điều trị. Cách người ta chăm sóc ong cũng làm cho đàn ong khoẻ mạnh, sinh trưởng tốt. Ong khoẻ thì làm men sẽ tốt hơn, cho năng lượng sinh học cao trong mật ong.
Bên cạnh đó, rừng ở phía bắc Việt Nam thì khí hậu bốn mùa, đa dạng sinh thái nên chất lượng mật rất cao. Như các vùng rừng đa cây dược quý như Ba Vì, Tam Đảo, Yên Tử là vùng cho mật rất tốt. Nhưng phải biết một cách chính xác là đàn ong ở vùng đó được đặt ở đâu, trong rừng tự nhiên hay trong rừng đặc dụng hay gần đồng ruộng canh tác nhiều hoá chất.

Ong được ăn đa dạng phấn hoa rừng thì chất lượng men sẽ cao hơn, lợi cho việc nuôi dưỡng đa dạng chủng men ở đường ruột của chúng ta. Nếu ong ở nơi vùng cây trái, đồng ruộng, hoa màu hay phun các loại thuốc thì phấn hoa và nguồn nước cũng nhiễm đủ các loại thuốc.
Hay nếu ong ở rừng độc canh như cây keo, bạch đàn, hoặc ong lấy chuyên một loại mật như là mật nhãn thì người nuôi ong phải mang ong di chuyển khắp nơi để lấy phấn của nơi này nơi khác khiến đàn ong khó thích nghi, hay bị bệnh. Vì thế, khi ong được sống trong một khu rừng được bảo tồn, lấy được nhiều phấn hoa của cây dược mọc tự nhiên trong rừng thì tính dược của mật sẽ cao, tốt cho nền tảng sức đề kháng của con người.
Thời điểm lấy mật và cách lấy cũng rất quan trọng, chỉ lấy từ tháng 3 đến tháng 8, sau đó sẽ để thời gian còn lại để ong có đủ mật dự trữ cho mùa đông và mùa sinh sản. Như vậy, mới có thể nuôi dưỡng được một đàn ong khoẻ mạnh.
Hay nếu ong ở rừng độc canh như cây keo, bạch đàn, hoặc ong lấy chuyên một loại mật như là mật nhãn thì người nuôi ong phải mang ong di chuyển khắp nơi để lấy phấn của nơi này nơi khác khiến đàn ong khó thích nghi, hay bị bệnh. Vì thế, khi ong được sống trong một khu rừng được bảo tồn, lấy được nhiều phấn hoa của cây dược mọc tự nhiên trong rừng thì tính dược của mật sẽ cao, tốt cho nền tảng sức đề kháng của con người.
Thời điểm lấy mật và cách lấy cũng rất quan trọng, chỉ lấy từ tháng 3 đến tháng 8, sau đó sẽ để thời gian còn lại để ong có đủ mật dự trữ cho mùa đông và mùa sinh sản. Như vậy, mới có thể nuôi dưỡng được một đàn ong khoẻ mạnh.

Từ những đặc điểm trên, để tìm được nguồn mật tốt thì trước mắt cần tìm ong được đặt nuôi trong vùng núi rừng được bảo tồn tốt, nguồn nước trong lành, đa dạng cây dược quý, đa dạng sinh thái. Người nuôi ong cần có kinh nghiệm và lành nghề, tốt hơn nữa là phải có tình thương và lòng biết ơn đối với ong.
Mật ong của HTX Chân Minh là mật được lấy từ những chú ong mật bản địa đã sinh sống lâu đời với rừng rậm nơi đây. Tổ ong được đặt trong rừng quốc gia Ba Vì – nơi nhận được sự gìn giữ bảo tồn rất tốt nên rất đa dạng sinh thái, có hàng ngàn loài cây ra hoa trong đủ các loại mùa, nhất là mùa xuân và mùa hạ, đây cũng là nơi có rất nhiều cây thuốc nam, vì thế mật ông Chân Minh rất đa vị và đặc biệt, không giống với mật ong ở bất kì nơi nào.
Ong được uống nước suối tự nhiên ở đầu nguồn, nơi không có sự canh tác nông nghiệp của bà con nên hoàn toàn sạch và không có hóa chất. Đàn ong cũng được chính người nông dân giàu kinh nghiệm, có hiểu biết, có tình thương và đã dành cả đời để gắn bó và chăm nuôi ong, vì vậy ong ở đây vô cùng khỏe mạnh và cho chất lượng mật không thể nào tốt hơn.
Mật ong của HTX Chân Minh là mật được lấy từ những chú ong mật bản địa đã sinh sống lâu đời với rừng rậm nơi đây. Tổ ong được đặt trong rừng quốc gia Ba Vì – nơi nhận được sự gìn giữ bảo tồn rất tốt nên rất đa dạng sinh thái, có hàng ngàn loài cây ra hoa trong đủ các loại mùa, nhất là mùa xuân và mùa hạ, đây cũng là nơi có rất nhiều cây thuốc nam, vì thế mật ông Chân Minh rất đa vị và đặc biệt, không giống với mật ong ở bất kì nơi nào.
Ong được uống nước suối tự nhiên ở đầu nguồn, nơi không có sự canh tác nông nghiệp của bà con nên hoàn toàn sạch và không có hóa chất. Đàn ong cũng được chính người nông dân giàu kinh nghiệm, có hiểu biết, có tình thương và đã dành cả đời để gắn bó và chăm nuôi ong, vì vậy ong ở đây vô cùng khỏe mạnh và cho chất lượng mật không thể nào tốt hơn.
